Chuyện nhà ở – Sự thừa và sự phí

Chuyện nhà ở – Sự thừa và sự phí

Nhà ta ở không chỉ là không gian sống. Nó là phương tiện sống, gắn bó và thiết thân với ta, chỉ sau bộ đồ. Giữa chúng có nhiều cái chung. Ta dùng cả hai trong việc che chỗ này và lại để mở chỗ kia. Ta dùng cả hai cho thân ta ấm áp hoặc mát mẻ, tránh nắng và tránh mưa, tránh luôn cái sự nhìn vào từ thiên hạ, hễ muốn. Cái chung lớn hơn cả giữa chúng là ở sự tiện lợi. Sự tiện lợi trước tiên là đòi hỏi tự nhiên của hoạt động cơ thể và hoạt động sống. Sự tiện lợi lại là đứa con của tư duy hợp lý. Sự hợp lý, thực ra, lại là anh em sinh đôi của sự chừng mực trong tiêu tốn. Tiện lợi và tiết kiệm trong việc ăn ở và việc mặc, hệ trọng hơn cả.

1.Ngót hai thế kỷ trước, một phần nhân loại đã chuyển dần sang sự ưu tiên tiêu chí tiện lợi trong ăn bận, giải thoát mình ra khỏi những bộ đồ kềnh càng và rườm rà, tạo ra cái sự sang hơn là cái sự tiện. Và, từ nửa sau thế kỷ trước, nhân loại hầu như nhất tề và đắm đuối bám đuổi trào lưu bình dân và thể thao trong ăn bận. Thế là, kỹ nghệ dệt kim toàn thắng.

Muộn hơn, kiến trúc cũng chậm chạp rũ bỏ lối tư duy đăng đối và thẩm mỹ trang điểm để đến với hình mẫu ngôi nhà như hiện thân của công dụng. O. Pérret, Le Corbusier, W. Gropius,…Mies Van der Rohe đã khẳng định, rành mạch và dứt khoát: Công dụng và sự hợp lý phải là xuất phát điểm cho tư duy sáng tạo, đồng thời cũng là những cái đích mà sáng tạo phải đi tới. Cái sự đẹp, như một hàm số, đi ra từ đấy. Tự nhiên và không thể tách lìa.

Dư thừa, phung phí chẳng mấy khi dẫn tới sự tiện lợi, lại càng ít khi dẫn tới cái đẹp. Dĩ nhiên, nếu hiểu cái đẹp không đồng nghĩa với sự xa hoa và phù phiếm.

Cái sự thiếu, cái sự chắt chiu chẳng những dẫn tới sự ưu tiên tiện lợi trong chừng mực mà, thông qua một quá trình mài giũa dài lâu, chiết suất nhọc nhằn ra cái sự đẹp, tự nhiên như chân lý.

Nếp nhà ở bằng gỗ 3 gian 2 chái của ông cha ta, về cơ bản, đích thực là sản phẩm của văn minh kiến tạo, hợp nên bởi 3 thành tố: Dây chuyền công năng sống đã định hình bền cứng + nguyên vật liệu làm nhà giới hạn cùng sự thuần thục trong sử dụng chúng + thẩm mỹ đại trà đã công thức hóa và bằng sự khai mở cái đẹp có thể. Khuôn mẫu của nếp nhà ở bằng gỗ thời xưa, dù rạch ròi như thể chân lý, không phải là cái ta có thể bưng bê vào nền xây dựng hôm nay. Nó chỉ nên được coi là bài học tiền bối dạy ta, không chủ ý: Sự tiện lợi và cái đẹp đi ra từ sự có lý. Và chính sự chừng mực là công cụ đắc lực để ta cân đo và lựa chọn giữa cái thiếu và cái thừa, giữa cái kiệm và cái phí.

Viết đến đây, tôi bỗng mỉm cười bởi cái ý nghĩ có phần ngô nghê: Xưa các cụ kiệm chữ, bởi chữ nho viết khó và khắc cũng khó. Nhờ sự kiệm mà lời văn Súc tích, mà chữ nặng nghĩa. Kiến trúc, chỉ có gỗ và đá, dụng phải trúng và cho đắt, bởi vậy mà chẳng có gì thừa. Thời nay, ta huy động vài chục chữ cái, viết dông dài bao nhiêu chả được. Lại trang bị thêm máy chữ rồi máy tính nữa. Bởi thế mà chữ nghĩa biến thành sông, thành lụt. Kiến trúc cũng vậy: Tiền bạc dư giả, vật liệu và kỹ thuật thừa bứa, thực đơn kiểu cách vô kể, – chữ “kiệm” bị sao nhãng, sự dư thừa và sự phung phí lấn sân tự nhiên, biến thành bệnh, hóa thành sự ngược đời.

Ngược đời, bởi nước mình, nhà mình đã giàu đâu. Mà giàu thực sự, chắc gì đã dung thứ sự thừa và sự phí.Ngược đời, ngược mọi lý lẽ, khi sự thừa và phí lại đang xảy ra ngay cả với những căn nhà ở ta vẽ và ta xây, thiết thân như áo quần ta mặc vậy.

Một ngôi nhà trên đường quốc lộ cũ từ Phủ Lý đi Ninh Bình
Một ngôi nhà trên đường quốc lộ cũ từ Phủ Lý đi Ninh Bình
 

2. Nhà chung cư, sản phẩm kinh doanh hàng loạt, nhà đầu tư chẳng mấy khi hào hiệp. Ngược lại, những sự vung tay, hoặc vô ý và hoặc chủ ý, chỉ xảy ra với chủ nhân của những căn nhà riêng, nhà gia đình. Ở cả những chủ nhân chưa giàu lẫn những chủ nhân lắm tiền. Ở cả thôn quê lẫn thành thị. Ở cả nhà xây theo lô, nhà biệt thự.

Sự thừa biểu hiện đầu tiên ở kích thước. Các gian phòng thường có chiều cao từ sàn đến trần 4m trở lên. Phòng khách, ở tầng trệt, cao chừng 4m là hợp lý, bởi nó rộng, cần bày biện nhiều, tập trung nhiều người và cũng cần đến sự trang trọng nào đó. Các phòng khác, cao 4m và hơn, chẳng để làm gì. Do chiều cao thừa mà phải làm trần giả. Do khối tích thừa mà phải tăng công suất máy lạnh. Sự thừa kích thước làm cho nơi ở trở nên thiếu sự ấm cúng. Các căn phòng trong nhà thường có kích thước vượt quá nhu cầu. Phòng khách, phòng sinh hoạt chung đôi khi rộng đến nỗi xếp chất bàn ghế, tổ chức nội thất thế nào đi nữa mà vẫn thấy chưa ổn. Kích thước buồng ngủ, buồng tắm vượt mức cần thiết: kê giường, kê tủ, kê bàn gương,…thêm gì nữa đây. Bước vào buồng tắm rộng, thấy tuênh toang, ngó vào thân mình, thèm sự thu khép hơn. Ấy vậy, nơi bếp núc lại ít được chú trọng, thường không đủ rộng để xoay xở và lại đặt ở nơi ít thuận lợi. Sống ở nhà, ông chủ thường khoe phòng khách. Bà chủ thường khoe nơi bếp núc. Còn người có học lại hãnh diện về phòng đọc sách, nơi làm việc.

Ta thường tính toán đầu tư làm nhà theo giá mét vuông, chẳng mấy ai tính theo giá mét khối. Cái thứ hai này cũng là chỉ tiêu cân nhắc. Giảm độ cao của trần 1m, nhà 3 tầng có thể trở thành 4.

Sự thừa bộc lộ hiển thị phổ biến ở quy mô ngôi nhà: Thừa số phòng, thừa tầng và thừa diện tích chiếm dụng đất. Có thể, do tâm lý: Ông cha ta vốn thiên về chăm lo cho nơi ở, nhất là ở phía Bắc, mà ít coi trọng miếng ăn, thu vén bóp miệng để xây để dựng cho mình, cho con cháu cái nhà thật đàng hoàng. Có thể, vài chục năm trước, ăn ở chật chội eo hẹp quá, cả nhà trong một gian phòng, mỗi người 2-3m2, mà nay người ta thèm khát căn nhà rõ to, rõ kiên cố. Thành ra ở thành thị, ở thôn quê, dày đặc hoặc nhan nhản, những ngôi nhà ở đồ sộ, lắm phòng và nhiều tầng, y hệt nhà nghỉ – khách sạn – tòa nhà văn phòng… Thời nay gia đình đã chia nhỏ, không sống chung 3-4 thế hệ dưới một mái nữa, chỉ vài ba người trong cái nhà bỏ không đến một nửa hoặc 1/3. Bàn thờ tổ tiên đơn côi đặt trên tầng thượng. Không còn chỗ cho ánh mặt trời soi lách vào cái sân – giếng. Không còn chỗ cho cỏ cây hoa lá, cho trẻ chạy nhảy. Ở thôn quê, không đủ chỗ trồng rau, nuôi gà lợn, – thiếu những thứ ấy, còn gì là nông thôn.

Một sự thừa thãi và phung phí nữa ngày càng tràn lan, lây nhiễm trong xây dựng nhà ở gia đình. Ngót nghét ba chục năm trước, người ta làm mái chóp nhại Âu châu trên nóc nhà, không có công dụng gì. Sau này, nảy sinh phong trào nhại chóp mái Nhà hát lớn Hà Nội. Nay, ở các thành phố, xuất hiện nhà biệt thự hoặc ở dạng lâu đài cổ Âu châu dày đặc trang trí đắp nặn như bánh ga-tô, hoặc ở dạng mô phỏng thánh đường có vòm lớn của kiến trúc sư Brunelleski thế kỷ XVI ở Florence, Italia. Chẳng hiểu vì sao hình mẫu cổ điển này lại hóa thân vào ngôi nhà người Việt, lại đổ bộ vào những chốn thị thành vẫn còn manh mún ở ta. Phải chăng, một tòa nhà công sở xây chục năm nay ở Hà Nội, là tiền mẫu cho hiện tượng vô tiền khoáng hậu này? Chưa có cuộc khảo sát và đánh giá hiệu quả về công dụng và thẩm mỹ của những sự đầu tư cho trang trí – trang điểm nội và ngoại thất thừa bứa và lai căng, cho sự cấy đặt những mái giả, những chóp và vòm lên phần trên của ngôi nhà, có chức năng cơ bản là cấu trúc che đậy. Cũng chưa thấy ai bàn luận từ phương diện học thuật cái hiện tượng oái oăm của sự biến hóa từ ngôi nhà ở sang tòa thánh Âu châu? Và, hệ trọng hơn, với lộ trình dật lùi hoặc rẽ ngang này, nền kiến trúc của Việt Nam ta sẽ đi đến đâu.

Tiền của dư giả và tham vọng tự tôn thúc giục người ta xây nhà bề thế, trang trí tráng lộng, tạo mượn cái “sang” mà mình chưa hẳn đã kịp có. Tâm lý xã hội này bộc lộ vật thể hơn cả ở sự ưa chuộng những lối bày biện nội thất bằng những thứ đồ đạc cồng kềnh, hình thù lạ lẫm, khoe vật liệu đắt tiền và màu mè chói lóe mắt, – sang thật và sang giả trà trộn. Người có vị trí xã hội và cả những người chưa giàu, ai ai cũng ham làm chủ những chiếc ghế “khủng”, thênh thang đến nỗi khi ta kê đặt mình chỉ chiếm 2/3, còn gỗ tay vịn và lưng tựa to bằng bắp đùi, hoa văn trang trí cồn cộn, át cả mặt người. Ta nghĩ gì, khi nhìn những tấm ảnh chụp “tự sướng”, trên cái ngai tự sướng ấy?

…Một lần thăm khu lưu niệm vị Chủ tích nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Đá Chông, bắt gặp những chiếc ghế làm bằng gỗ và mây đan, thanh mảnh tưởng như vật liệu đã được giảm thiểu đến mức tối đa, chỉ lưu duy cái sự bền chắc mà cái cấu trúc kê tọa phải đảm trách. Kiểu ghế này Cụ Chủ tịch ngồi đọc báo ở Phủ Chủ tịch, xưa kia còn gặp ở phòng khách sân bay Gia Lâm. Người vẽ và làm ra nó là họa sỹ Trịnh Hữu Ngọc (1912 – 1997), tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương, designer đồ gỗ đầu tiên ở ta. Mẫu ghế của cụ vừa kiệm vật liệu, vừa giản dị, lại bền chắc, ngồi vào thấy êm và mát, đặc biệt thanh thế của mình không sút giảm…Những phẩm chất ấy liên quan đến những gì ta mong mỏi và nên hướng tới ở hình mẫu ngôi nhà Việt. Người ta nói, nhìn nhà anh thế nào, tôi hiểu anh như thế.

…Nghe kể, Ngài Hilton, – ông tổ của thương hiệu khách sạn đẳng cấp cùng tên, vốn là người lười biếng vận động, bởi vậy mà ông sắp đặt mọi thứ cận kề tay và chân, giảm thiểu cựa quậy thừa. Ông đặt tiêu chí tiện lợi thành ưu tiên trong việc xây dựng khách sạn.

Làm nhà, ưu tiên một là sự tiện lợi và tiện nghi, ưu tiên hai là sự tiêu tốn hợp lý, ưu tiên ba là cái đẹp. Khi cả 3 nhập hòa làm một, đầu ta và tâm thái ta sẽ đạt tới sự mãn nguyện.

Làm nhà, ta là cha đẻ ra nó. Chẳng mấy khi ta nghĩ nó cũng vô hình tác động ngược lại. Người hạnh phúc, hễ ngộ ra, hễ cảm thấu: Nhà mình xây vừa thiết thân lại vừa thân thiết với mình.

GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính

Close Menu
error: Nội dung được bảo vệ !!